HOTLINE: 0123 8686 848
PHẪU THUẬT THẨM MỸ

PHẪU THUẬT NÂNG CUNG MÀY

BẰNG ĐƯỜNG MỔ TRỰC TIẾP

Bác sĩ. PHẠM XUÂN HÙNG

1.      ĐẶT VẤN ĐỀ:


Hiện tượng lão hóa do tuổi già gây ra nhiều biến đổi trên khuôn mắt như cung mày thấp, nếp mi trên trễ xuống, chảy xệ vùng da gó má, nếp rãnh mũi má sâu… Điểm nổi bất của khuôn mắt trẻ là vùng da chuyển tiếp giữa các vùng giữa trán, đuôi mắt, mi mắt, gò má… phải phẳng và trơn láng. Đáng quan tâm là khoảng cách giữa các vùng: chân mày – mi mắt, mi mắt – gò má, gò má – khóe miệng, khóe miệng – hàm dưới… các khoảng cách này phải cân đối theo một tì lệ thích hợp. Việc làm trẻ hóa khuôn mặt là sự tổng hợp các tiến trình nhằm giải quyết các vấn đề về độ đàn hồi của da, nếp nhăn da, vị trí của cung mày, túi thừa ỡ mi mắt, làm đầy rãnh má mũi, nâng cao vùng da gò má…,trong đó việc phục hồi vị trí của cung mày đóng vai trò nổi bật, được nhiều người quan tâm

Có nhiều cách để phục hồi vị trí cung mày như nâng mày qua nội soi, căng da trán bằng đường mổ hở, nâng mày bằng đường mổ bên thái dương, nâng mày bằng đường mổ trực tiếp, sử dụng chỉ Aptos…Nhận thấy đường mổ trực tiếp ngay trên cung mày, nhằm phục hồi lại vị trí ban đầu của cung mày là phương pháp dễ thực hiện, chi phí thấp so với các phương pháp khác, điều này phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên điều đáng lo ngại là sẹo vết mổ dễ thấy rõ, đây không chỉ là mối quan tâm của bệnh nhân mà kể cả thầy thuốc. Nhằm tìm kiếm một giải pháp làm sao đẻ vết sẹo mổ lành tốt, bệnh nhân dễ chấp nhận và hài lòng với kết quả phẫu thuật, bằng việc thiết kế đường mổ hợp lý , hướng rạch da hơi chếch cùng với kỹ thuật khâu mũi rời một lớp dưới da, đó cũng chính là mục tiêu của đề tài nghiên cứu này.

 

2.      ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


2.1  Chỉ định:

-         Khoảng cách cung mày – mi mắt hẹp ngắn so với bình thường

-         Thừa da mi trên và vị trí cung mày thấp

-         Dấu xăm chân mày quá to cần phải cắt bớt và vị trí cung mày thấp


2.2  Thiết kế đường mổ:

-         Đánh giá bằng cách kéo da lên trên, thảo luận với bệnh nhân về độ cao cần đạt được. Đánh dấu khoảng cách cầng nâng, cũng chính là khoảng cách da cần cắt bỏ

-         Vẽ đường mổ: ngay sát bờ trên đường lông mày, hoặc sát ngay trên vết xăm. Đối với bệnh nhân có vết xăm to cần cắt bớt, thì phải nghiên cứu hình dạng còn lại của vết xăm để có đường vẽ thích hợp

.

Hình 1: Thiết kế đường mổ ngay sát trên chân mày, bảo tồn lông mày càng nhiều càng tốt.

2.3  Chuẩn bị mổ:

-         Chụp hình trước mổ là điều không thể thiếu đẻ đánh giá kết quả sau phẫu thuật cũng như để giải thích cho bệnh nhân về kết quả sau này

-         Khai thác bệnh sử, lập hồ sơ bệnh án

-         Xét nghiệm: thời gian máu chảy, máu đông. Đối với các bệnh nhân có nguy cơ chảy máu, nên xét nghiệm chức năng đông máu toàn bộ. Nếu có bất thường, nên có biện pháp hổ trợ hoặc điều trị thích hợp trước mổ đẻ tránh biến chứng chảy máu sau mổ

-         Không cần thiết phải nhịn ăn, vì bệnh nhân được vô cảm bằng gây tê tại chỗ

-         Không cần thiết phải cạo lông mày, giữ đươc lông mày cho bệnh nhân càng nhiều càng tốt


2.4  Kỹ thuật mổ:

-         Tư thế: bệnh nhân nằm ngữa, phẫu thuật viên ngồi phía trên đầu bệnh nhân

-         Vô cảm: tê tại chỗ bằng Lidocain 2%, có Adrenaline 0,01%. Lượng thuốc tê dùng khoảng 1,5ml/ bên. Mổ bên nào gây tê bên đó.

-           Rạch da theo đường vẽ. Chú ý hướng dao rạch da ở hai mép vết thương hơi chếch khoảng 100 , tạo thành hình thang có đáy lớn nằm phía dưới, đáy nhỏ nằm trên lớp da



Hình 2: Hướng rạch da chếch 100

 

-         Cắt bỏ phần da theo đường mổ đã vẽ. Không cắt cơ để tránh tổn thương thần kinh cảm giác vùng này. Hơn nữa việc cắt cơ cũng không cần thiết

-         Cầm máy kỹ bằng máy đốt

-         Bóc tách hai phía của mép vết mổ. Sau khi bóc tách, phải chuẩn bị cho độ dầy của hai mép vết mổ phải đều nhau. Điều này giúp cho vết mổ phẳng, không bị lồi lõm

-         Khâu mũi rời bằng chỉ monosyn 6.0. Khâu mũi rời lộn gút xuống dưới. Khi khâu chú ý đánh dấu làm mốc để hai mép vết mổ luôn tương xứng. Khâu từ trong ra ngoài

 

 

Hình 3: Mối chỉ khâu lộn gút xuống  dưới để  tránh cộm chỉ

-         Không khâu da, chỉ tăng cường bằng băng keo dính vô trùng

 

2.5  Chăm sóc sau mổ:

-         Băng ép vết thương 24 giờ nếu nghi ngờ có chảy máu sau mổ, hoặc bệnh nhân có nguy cơ chảy máu sau mổ

-         Rửa vết thương kiểm tra sau 48 giờ

-         Gỡ hết băng keo sau 5-7 ngày

-         Hẹn tái khám chụp hình kiểm tra

-         Không cần bôi thuốc chống sẹo


3.      KẾT QUẢ:


3.1  Số liệu:

-         Số ca thực hiện: 153. Trong đó Nam: 03, Nữ: 150

-         Thời gian thực hiện: từ tháng 01/2007 đến tháng 6/2009

-         Phân theo tuổi:

Lứa tuổi

<30

30-40

40-50

50-60

>60

Số ca

02

18

69

49

15

Bảng 1: Phân bố bệnh nhân theo lứa tuổi

 

-         Thời gian mổ trung bình: 45 – 50 phút

-         Biến chứng:

·        nhiễm trùng: 0

·        tụ máu: 2. Trong đó có 1 ca phải mổ lại cầm máu

·        bầm quanh vết mổ sau 1 tuần: 10 ca. Trong số này có 8 ca hết bầm sau 2 tuần, có 2 ca hết bầm sau 3 tuần

·        dị ứng chỉ: 1

·        tổn thương thần kinh cảm giác: 0

-         Vết mổ lành: 100% sau 1 tuần

 

3.2  Kết quả thẩm mỹ sẹo vết mổ:

 

3.2.1        Tiêu chuẩn đánh giá: có 4 tiêu chuẩn

-         Đường mổ cong liên tục không bị gãy khúc, gãy khúc ít, gãy khúc nhiều

-         Độ rộng sẹo vết mổ: <0,5, 0,5-1, >1mm

-         Màu sắc: không thay đổi so với vùng da xung quanh, nhạt hơn vùng da xung quanh, đậm hơn so với vùng da xung quanh

-         Độ phẳng của vết mổ: hoàn toàn phẳng, lồi lõm ít, lồi lõm nhiều

Mỗi tiêu chuẩn được cho tối đa 3 điểm theo thứ tự từ tốt đến xấu


3.2.2        Đánh giá:

Tổng số điểm được tính theo các tiêu chuẩn trên

-         Rất đẹp: 10-12 điểm

-         Đẹp: 08-10 điểm

-         Xấu: 06-08 điểm

-         Rất xấu: <06 điểm


3.2.3        Bảng kết quả:

 

Kết quả

Rất đẹp

Đẹp

Xấu

Rất xấu

Số ca

88

60

5

0

Tỉ lệ

57,5%

39,2%

3,3%

0%

Bảng 2: Kết quả thẩm mỹ sẹo vết mổ


Nhận xét:

-         5 ca xấu bao gồm: 2 ca bị dãn vết mổ >1mm, 2 ca vết mổ bị lõm, 1 ca vết mổ bị gãy khúc

-         Trong số này có 3 ca phải mổ sửa lại sẹo sau 3 tháng ( 1 ca: dãn vết mổ 1mm, 1 ca vết mổ bị lõm ít, 1 ca vết mổ bị gãy khúc.  2 ca không đồng ý mổ lại.

 

 

3.3  Kết quả sự hài lòng của bệnh nhân:

 

Độ hài lòng

Rât hài lòng

Hài lòng

Phàn nàn ít

Phàn nàn nhiều

Số ca

79

63

8

3

Tỉ lệ

51,6%

41,2%

5,2%

2%

Bảng 3: Kết quả sự hài lòng của bệnh nhân

 

Nhận xét: Sự hài lòng của bệnh nhân không phụ thuộc hoàn tòan vào kết quả thẩm mỹ của vết mổ. Có những trường hợp rất đẹp mà bệnh nhân vẫn phàn nàn. Ngược lại có trường hợp kết quả xấu nhưng bệnh nhân hài lòng hoặc chỉ phàn nàn mức độ ít.

 

4.      BÀN LUẬN:


4.1  Lựa chọn bênh nhân:

Việc thăm khám đánh giá trước mổ vô cùng quan trọng. Động tác kéo ướm thử cung mày lên trên để đánh giá độ cao tối ưu cùng sự biến đổi của mi trên. Thảo luận với bệnh nhân về tiên lượng kết quả ngay sau mổ.

Các biện pháp hỗ trợ khác sau mổ như: phẫu thuật mi mắt trên, hoặc xăm chân mày, sử dụng thuốc Botulinum…cũng nên thảo luận trước với bệnh nhân. Viêc tư vấn kỹ lưỡng sẽ giúp cho bệnh nhân và cả thầy thuốc đều hài lòng với kết quả sau mổ phù hợp với những điều đã thảo luận trước đó

 

4.2  Thiết kế vẽ đường mổ:

Việc thăm khám và đánh giá độ cao tối ưu của cung mày cùng với sự biến đổi lệ thuộc của nếp mi trên, sẽ giúp cho thầy thuốc thiết kế đường mổ thích hợp. Đánh dấu các khoảng cách và các mốc trên cung mày để xác định phần nào của cung mày sẽ được nâng cao tới đâu.Chúng tôi thường đánh dấu vị trí của đỉnh cung mày trước, sau đó đánh dấu cho vị trí của 1/3 ngoài và 1/3 trong. Chúng tôi chú ý và bảo tồn lông mày thật của bệnh nhân. Việc bảo tồn này giúp ích rất nhiều cho việc che lắp vết mổ sau này. Rất nhiều trong số bệnh nhân của chúng tôi có dấu xăm chân mày trước đó, nên việc nâng mày kết hợp với điều chỉnh vết xăm cũng rất cần thiết. Ngoài trừ việc xác định độ cao tối ưu của cung mày, chúng tôi còn quan tâm đến hình dạng vết mổ sau này, sao cho vết mổ càng phù hợp với đường vẽ mày của bệnh nhân càng nhiều càng tốt. Sau khi thiết kế và vẽ trực tiếp trên bệnh nhân, cần cho bệnh nhân ngồi dậy để xem lại và điều chỉnh thật chính xác trước khi tiến hành mổ

 

4.3  Kỹ thuật rạch da theo hướng chếch:

Hướng dao rạch da ở hai mép vết mổ chếch 100 về phía ngoại vi, điều này tạo cho vết mổ có dạng hình thang mà đáy lớn nằm ở phía dưới, đáy nhỏ nằm ở phía bề mặt da. Chính nhờ sự chênh lệch này, nên khi khâu siết chặt lớp dưới da thì đồng thời lớp biểu mô trên da sẽ áp chặt hơn. (Hình 2)

 

4.4  Kỹ thuật khâu lộn gút xuống dưới:

Chúng tôi chỉ khâu một lớp dưới da bằng mũi chỉ rời với mối gút lộn xuống dưới.

Hơn nữa lực căng vết mổ ở vùng này không lớn, nên chúng tôi thấy không cần thiết phải khâu da, mà chỉ tăng cường dính bằng băng keo vô trùng là đủ. Chú ý mũi khâu phải lấy gần hết chiều dầy của lớp dưới da, nhờ đó mà lực ép vết mổ sẽ tốt hơn. Chúng tôi khâu mũi rời vì lý do sau: điều chỉnh được khoảng cách giữa hai mép vết mổ tốt hơn, chính nhờ sự điều chỉnh này mà đường mổ dù cong nhưng là một đường liên tục không bị gãy khúc, hơn nữa việc đứt chỉ có thể xảy ra nhưng sẽ không ảnh hưởng đến toàn bộ vết mổ so với mũi khâu liên tục.

Sự kết hợp của hướng chếch đường rach da và kỹ thuật khâu lộn gút xuống dưới, tạo nên lực ép ổn định và chắc chắn giữa hai mép vết mổ, nên không cần thiết phải khâu da, không cần phải cắt chỉ và việc chăm sóc vết mổ cũng đơn giản hơn

Bất lợi của kỹ thuật khâu này là thời gian mổ lâu hơn so với phương pháp khâu thông thường


                               Hình 4: Càng siết chặt mối gút, thì mép da càng khít

  

 

5.      KẾT LUẬN:


Phục hồi vị trí cung mày là một phần quan trọng trong việc phẫu thuật làm trẻ hóa vùng quanh  mắt. Phẫu thuật nâng mày bằng đường mổ trực tiếp là một phương pháp đơn giản dễ thực hiện, nhưng cũng rất hữu hiệu trong công tác thực tiễn hàng ngày. Yếu tố quyết định của thành công sau mổ và sự hài lòng của bệnh nhân chính là chất lượng sẹo liền vết mổ phải thật tốt. Thực tế lâm sàng cho thấy việc kết hợp hướng rach da chếch và kỹ thuật khâu lộn gút xuống dưới cho kết quả lành sẹo rất tốt. Không có hiện tượng dãn vết mổ, bề mặt vết mổ phẳng, vết mổ cong liên tục không gãy khúc. Cũng chính nhờ sự kết hợp này, mà hai mép của vết mổ được ép sát liên tục và đồng đều, nên không cần phải khâu da,  nhờ đó mà tránh được dấu sẹo ngang của lằn chỉ, chăm sóc sau mổ đơn giản và bệnh nhân cảm thấy thoải mái hơn vì không cần phải cắt chỉ.

Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết bệnh nhân (92,8%) đều hài lòng về sẹo mổ liền tốt cũng như kết quả của việc phục hồi vị trí cung mày, đó cũng là điều khích lệ cho chúng tôi mạnh dạn áp dụng kỹ thuật này, dù trên thế giới việc nâng mày bằng đường mổ trực tiếp rất ít được áp dụng.


6.      HÌNH MINH HỌA KẾT QUẢ SAU MỔ:



Hình minh họa 1: BN 32t, chỉ định tạo chân mày hình vòng cung
Kết quả sau mổ 1 tuần



 

Hình minh họa 2: BN 39t, chỉ định phục hồi vị trí cung mày
Kết quả sau mổ 5 ngày


Hình minh họa 3: BN 60t, chỉ định phục hồi vị trí cung mày và tạo hình mi trên
Kết quả sau mổ 5 ngày



Hình minh họa 4: BN 56t, chỉ định nâng cung mày
Kết quả sau mổ 1 tháng



Hình minh họa 5: BN 42t, chỉ định tạo hình cung mày và mi trên
Kết quả sau mổ 1 năm




Các dịch vụ liên quan:
Quảng cáo